minhhoang
16-10-2008, 07:07 PM
Áo giáp chống đạn Việt Nam
http://vndefence.info/uploads/News/pic/1183739515.nv.jpg
Việt Nam đă sản xuất thành công áo giáp chống đạn vào năm 2003. Đây là sản phẩm của Trung tâm Công nghệ vật liệu, Viện Nghiên cứu ứng dụng công nghệ (Bộ Khoa học Công nghệ). Áo giáp có thể chống các loại đạn bộ binh thông dụng như K54, AK..., có trọng lượng vừa phải (2,2-5 kg), giá thành thấp hơn sản phẩm nhập mà vẫn có tính năng bảo vệ tương đương.
Sử dụng lụa làm lót cho các tấm giáp đă được người Trung Quốc nghĩ ra từ thế kỷ thứ 6. Sau này, người ta ngày càng có nhu cầu dùng những tấm giáp che thân nhưng phải thuận tiện khi di chuyển. Người Nga lần đầu tiên dùng lụa làm tấm chắn chống đạn súng ngắn vào khoảng năm 1914, nhưng đến chiến tranh Triều Tiên, vật liệu composite chống đạn mới lần đầu tiên được sử dụng trong quân đội Mỹ ở dạng đơn giản: áo vét làm từ các tấm nylon cứng (chỉ chống được những mảnh đạn có tốc độ không cao). Đến chiến tranh Việt Nam, áo giáp của Mỹ mới chống được đạn súng trường. Tuy nhiên, loại áo này lại gây ra trở ngại rất lớn do khối lượng quá nặng của nó, lên đến 6g/cm2 (60kg/m2).
Gần đây, một số loại áo giáp do Nga sản xuất được độn một tấm thép dày nên khá nặng, có thể tới hơn 10 kg. Hiện nay, trên thế giới đă chế tạo được cả mũ, khiên, cặp bảo vệ chống đạn. Phần lớn chúng đều được tạo từ các sợi siêu bền như cacbon, gốm, polyethylene... và vật liệu composite. Việt Nam đă nhập một số loại áo giáp của Nga, Pháp, Israel… . Tuy những chiếc áo này rất đắt, nhưng hiệu quả sử dụng không cao v́ chúng được may theo kích cỡ của người phương Tây. Người Việt Nam khi mặc rất khó thực hiện các thao tác linh hoạt.
http://www.thetech.org/nmot/033/media/image005.gif
Qua khảo sát, tiếp cận công nghệ, nhóm nghiên cứu của Trung tâm Vật liệu mới (Viện Nghiên cứu ứng dụng công nghệ), do kỹ sư Bùi Công Khê đứng đầu, bắt đầu quá tŕnh phân tích các chỉ tiêu kỹ thuật, cấu trúc sản phẩm. Năm 2002, những chiếc áo giáp chống đạn đầu tiên đă được ra đời tại Việt Nam với nhiều cấp chống đạn khác nhau, không thua kém về tính năng bảo vệ so với các sản phẩm cùng loại của Mỹ, Anh...
Theo kỹ sư Bùi Công Khê, để chống lại được đạn, trước tiên phải hiểu cơ chế phá hủy của viên đạn. Một số viên đạn của các nước Đông Âu có lơi bằng đồng nên khả năng xuyên kém hơn so với loại bọc lơi thép của Nga đang được sử dụng ở Việt Nam và một số nước châu Á khác. V́ vậy, một số áo giáp nhập khẩu từ châu Âu nhiều khi không phát huy được tác dụng. Để chống lại lực phá mạnh của viên đạn, vật liệu chống phải ngăn chặn được sự xuyên thủng và hấp thụ được toàn bộ năng lượng động học của đạn. Với cơ chế như thế, áo giáp phải có độ giăn, độ bền và tốc độ sóng ngang trong sợi cực cao để phân tán lực từ đầu đạn ra một diện tích lớn hơn. Nhưng để có thể mặc được và cơ động trong các hoàn cảnh cần vận động th́ khối lượng của áo giáp đóng vai tṛ quan trọng. V́ vậy vật liệu có khối lượng riêng càng nhỏ nhưng độ bền, độ giăn dài và tốc độ sóng ngang càng cao th́ sẽ cho chất lượng áo giáp càng tốt.
Các tấm áo giáp của Việt Nam đă được chế tạo chủ yếu từ các sợi Kevlar 129, Spectra 1000; Boron...
Để làm được một chiếc áo giáp thành phẩm, phải qua nhiều công đoạn phức tạp. Cơ bản nhất là làm sao liên kết hàng trăm bó sợi để thành một thể thống nhất bền vững, sau đó qua một bể nhựa nhiệt dẻo, những tấm composite dẻo sẽ thành h́nh. Xếp vuông góc các tấm composite đó làm nên các lớp mỏng, ép nhiệt dán chúng lại với nhau để tạo thành một tấm gia cường - thành phần quan trọng nhất trong công năng chống đạn của áo giáp. Theo kỹ sư Bùi Công Khê, chỉ với tấm áo dệt trông dày hơn áo jean một chút, người mặc không bị đạn súng K59 sát thương. Khi thêm các tấm tăng cường, tùy từng loại sẽ bảo vệ được con người trước các loại súng bộ binh phổ biến như CKC, AK…
Ma sát góp phần quan trọng để chống lại các tác động của đạn, do đó, cách bện sợi có vai tṛ đặc biệt. Nếu dệt quá chặt hoặc quá cứng, biến dạng của vật liệu sẽ bị hạn chế khi viên đạn xuyên tới nên dễ gây tác động xé rách tại điểm tập trung lực ở đầu đạn. Nhưng nếu lỏng hoặc quá mềm, đầu đạn sẽ dễ dàng đi qua bằng việc tách các lớp sợi ra. V́ vậy, áo giáp thành phẩm phải được sản xuất trong điều kiện nghiêm ngặt và có kiểm nghiệm kỹ để tránh được các sai sót này. Kỹ sư Bùi Công Khê cho biết, để tránh bề mặt sợi vật liệu quá mịn, trong quá tŕnh va đập các sợi sẽ bị trượt (do hệ số ma sát giữa chúng thấp), nhóm nghiên cứu đă phải t́m cách làm nhám, xử lư bề mặt sợi để tăng ma sát đáp ứng nhu cầu giữ viên đạn lại.
Các loại áo giáp chống đạn của Việt Nam đều có khối lượng vừa phải: chống K59 2,2 kg và nặng nhất là chiếc áo chống đạn AK với khối lượng 5 kg. Hiện tại, Trung tâm Công nghệ vật liệu đă chế tạo được khiên chống đạn với khối lượng chỉ khoảng 12 kg/m2, có thể chống được hầu hết các loại đạn.
Cũng theo kỹ sư Bùi Công Khê, hiện nay, Trung tâm công nghệ vật liệu hoàn toàn có khả năng sản xuất đáp ứng nhu cầu trong nước (khoảng 10.000 chiếc/năm) với giá thành thấp hơn nhập từ nước ngoài. Chẳng hạn, loại áo giáp binh lính Mỹ sử dụng trong chiến tranh Iraq trị giá 1.000-1.500 USD/chiếc. Sản phẩm của Việt Nam qua kiểm nghiệm có chất lượng tương đương nhưng giá thành chỉ bằng 2/3.
(Theo vnexpress)
http://vndefence.info/uploads/News/pic/1183739515.nv.jpg
Việt Nam đă sản xuất thành công áo giáp chống đạn vào năm 2003. Đây là sản phẩm của Trung tâm Công nghệ vật liệu, Viện Nghiên cứu ứng dụng công nghệ (Bộ Khoa học Công nghệ). Áo giáp có thể chống các loại đạn bộ binh thông dụng như K54, AK..., có trọng lượng vừa phải (2,2-5 kg), giá thành thấp hơn sản phẩm nhập mà vẫn có tính năng bảo vệ tương đương.
Sử dụng lụa làm lót cho các tấm giáp đă được người Trung Quốc nghĩ ra từ thế kỷ thứ 6. Sau này, người ta ngày càng có nhu cầu dùng những tấm giáp che thân nhưng phải thuận tiện khi di chuyển. Người Nga lần đầu tiên dùng lụa làm tấm chắn chống đạn súng ngắn vào khoảng năm 1914, nhưng đến chiến tranh Triều Tiên, vật liệu composite chống đạn mới lần đầu tiên được sử dụng trong quân đội Mỹ ở dạng đơn giản: áo vét làm từ các tấm nylon cứng (chỉ chống được những mảnh đạn có tốc độ không cao). Đến chiến tranh Việt Nam, áo giáp của Mỹ mới chống được đạn súng trường. Tuy nhiên, loại áo này lại gây ra trở ngại rất lớn do khối lượng quá nặng của nó, lên đến 6g/cm2 (60kg/m2).
Gần đây, một số loại áo giáp do Nga sản xuất được độn một tấm thép dày nên khá nặng, có thể tới hơn 10 kg. Hiện nay, trên thế giới đă chế tạo được cả mũ, khiên, cặp bảo vệ chống đạn. Phần lớn chúng đều được tạo từ các sợi siêu bền như cacbon, gốm, polyethylene... và vật liệu composite. Việt Nam đă nhập một số loại áo giáp của Nga, Pháp, Israel… . Tuy những chiếc áo này rất đắt, nhưng hiệu quả sử dụng không cao v́ chúng được may theo kích cỡ của người phương Tây. Người Việt Nam khi mặc rất khó thực hiện các thao tác linh hoạt.
http://www.thetech.org/nmot/033/media/image005.gif
Qua khảo sát, tiếp cận công nghệ, nhóm nghiên cứu của Trung tâm Vật liệu mới (Viện Nghiên cứu ứng dụng công nghệ), do kỹ sư Bùi Công Khê đứng đầu, bắt đầu quá tŕnh phân tích các chỉ tiêu kỹ thuật, cấu trúc sản phẩm. Năm 2002, những chiếc áo giáp chống đạn đầu tiên đă được ra đời tại Việt Nam với nhiều cấp chống đạn khác nhau, không thua kém về tính năng bảo vệ so với các sản phẩm cùng loại của Mỹ, Anh...
Theo kỹ sư Bùi Công Khê, để chống lại được đạn, trước tiên phải hiểu cơ chế phá hủy của viên đạn. Một số viên đạn của các nước Đông Âu có lơi bằng đồng nên khả năng xuyên kém hơn so với loại bọc lơi thép của Nga đang được sử dụng ở Việt Nam và một số nước châu Á khác. V́ vậy, một số áo giáp nhập khẩu từ châu Âu nhiều khi không phát huy được tác dụng. Để chống lại lực phá mạnh của viên đạn, vật liệu chống phải ngăn chặn được sự xuyên thủng và hấp thụ được toàn bộ năng lượng động học của đạn. Với cơ chế như thế, áo giáp phải có độ giăn, độ bền và tốc độ sóng ngang trong sợi cực cao để phân tán lực từ đầu đạn ra một diện tích lớn hơn. Nhưng để có thể mặc được và cơ động trong các hoàn cảnh cần vận động th́ khối lượng của áo giáp đóng vai tṛ quan trọng. V́ vậy vật liệu có khối lượng riêng càng nhỏ nhưng độ bền, độ giăn dài và tốc độ sóng ngang càng cao th́ sẽ cho chất lượng áo giáp càng tốt.
Các tấm áo giáp của Việt Nam đă được chế tạo chủ yếu từ các sợi Kevlar 129, Spectra 1000; Boron...
Để làm được một chiếc áo giáp thành phẩm, phải qua nhiều công đoạn phức tạp. Cơ bản nhất là làm sao liên kết hàng trăm bó sợi để thành một thể thống nhất bền vững, sau đó qua một bể nhựa nhiệt dẻo, những tấm composite dẻo sẽ thành h́nh. Xếp vuông góc các tấm composite đó làm nên các lớp mỏng, ép nhiệt dán chúng lại với nhau để tạo thành một tấm gia cường - thành phần quan trọng nhất trong công năng chống đạn của áo giáp. Theo kỹ sư Bùi Công Khê, chỉ với tấm áo dệt trông dày hơn áo jean một chút, người mặc không bị đạn súng K59 sát thương. Khi thêm các tấm tăng cường, tùy từng loại sẽ bảo vệ được con người trước các loại súng bộ binh phổ biến như CKC, AK…
Ma sát góp phần quan trọng để chống lại các tác động của đạn, do đó, cách bện sợi có vai tṛ đặc biệt. Nếu dệt quá chặt hoặc quá cứng, biến dạng của vật liệu sẽ bị hạn chế khi viên đạn xuyên tới nên dễ gây tác động xé rách tại điểm tập trung lực ở đầu đạn. Nhưng nếu lỏng hoặc quá mềm, đầu đạn sẽ dễ dàng đi qua bằng việc tách các lớp sợi ra. V́ vậy, áo giáp thành phẩm phải được sản xuất trong điều kiện nghiêm ngặt và có kiểm nghiệm kỹ để tránh được các sai sót này. Kỹ sư Bùi Công Khê cho biết, để tránh bề mặt sợi vật liệu quá mịn, trong quá tŕnh va đập các sợi sẽ bị trượt (do hệ số ma sát giữa chúng thấp), nhóm nghiên cứu đă phải t́m cách làm nhám, xử lư bề mặt sợi để tăng ma sát đáp ứng nhu cầu giữ viên đạn lại.
Các loại áo giáp chống đạn của Việt Nam đều có khối lượng vừa phải: chống K59 2,2 kg và nặng nhất là chiếc áo chống đạn AK với khối lượng 5 kg. Hiện tại, Trung tâm Công nghệ vật liệu đă chế tạo được khiên chống đạn với khối lượng chỉ khoảng 12 kg/m2, có thể chống được hầu hết các loại đạn.
Cũng theo kỹ sư Bùi Công Khê, hiện nay, Trung tâm công nghệ vật liệu hoàn toàn có khả năng sản xuất đáp ứng nhu cầu trong nước (khoảng 10.000 chiếc/năm) với giá thành thấp hơn nhập từ nước ngoài. Chẳng hạn, loại áo giáp binh lính Mỹ sử dụng trong chiến tranh Iraq trị giá 1.000-1.500 USD/chiếc. Sản phẩm của Việt Nam qua kiểm nghiệm có chất lượng tương đương nhưng giá thành chỉ bằng 2/3.
(Theo vnexpress)