hoangthienthach
20-03-2008, 04:01 PM
Gần 60% người được thăm ḍ cho rằng các ngành thuộc khối kinh tế như tài chính - ngân hàng, quản trị kinh doanh... là những ngành học được nhiều thí sinh (TS) chú ư nhất. Kết quả này dự báo một cuộc "cạnh tranh khốc liệt" cho những TS có nguyện vọng muốn trở thành người làm kinh tế.
Cũng theo kết quả thăm ḍ được thực hiện tại cổng thông tin thi và tuyển sinh của Bộ GD-ĐT đến ngày 11-2, khối ngành vốn một thời được xưng tụng là "nhất y, nh́ dược" đă bị đẩy xuống hàng thứ hai với chỉ 15,7%. Trong khi tất cả những khối ngành c̣n lại gồm cả công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, xây dựng... chỉ có hơn 25% người được hỏi cho rằng đó là những ngành học hấp dẫn.
Lên ngôi
Trong năm 2007, không chỉ bậc ĐH, các trường CĐ tuyển sinh khối ngành kinh tế, quản trị kinh doanh cũng thu hút đông đảo TS đăng kư dự thi. Ngoài ra, các trường ĐH đóng tại địa phương, các trường ĐH đa ngành, đa cấp, đào tạo liên thông hầu hết có số hồ sơ đăng kư dự thi tăng mạnh: Trường ĐH Cần Thơ có số hồ sơ đăng kư dự thi so với năm 2006 tăng 6%, ĐH Tây Bắc tăng 31%, ĐH An Giang tăng 49%...
Xem lại bức tranh tuyển sinh năm 2007, người ta nhận thấy một sự phân hóa khá rơ nét trong xu hướng chọn ngành của TS và điểm nhấn chính là khối ngành kinh tế.
Nếu để đánh giá mức độ quan tâm đến nhóm ngành kinh tế của TS th́ có lẽ số lượng TS đăng kư dự thi cũng như điểm chuẩn trúng tuyển của Trường ĐH Kinh tế TP.HCM là thước đo dễ quan sát nhất.
Chỉ tuyển sinh duy nhất khối A, năm 2007 trường có đến 46.555 TS đăng kư dự thi, trở thành một trong những trường có số lượng TS đăng kư dự thi đông nhất. So với năm 2006, số lượng đăng kư dự thi vào trường tăng đến hơn 15%.
Cùng với sự tăng thêm về số lượng, điểm chuẩn của trường cũng "nhảy" từ 17,5 điểm năm 2006 lên 21,5 điểm năm 2007. Điểm chuẩn này khiến không ít TS phải ngậm ngùi nói lời tạm biệt với trường chỉ v́ lỡ ngắm nghía mức điểm chuẩn năm trước.
Ở Khoa kinh tế (ĐHQG TP.HCM), số lượng TS đăng kư dự thi vào các ngành như kinh tế đối ngoại, quản trị kinh doanh cũng khiến nhiều TS phải kiêng dè. Con số gần 2.000 TS đăng kư "tranh nhau" hơn 200 chỉ tiêu làm điểm chuẩn của hai ngành này lên đến 19 và 20,5 điểm. Và hai ngành đó đương nhiên không c̣n chỗ cho nguyện vọng 2. Đối với Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM, "cơn sốt" cũng lên cao không kém. Một trong những ngành đào tạo chủ lực của trường là tài chính - ngân hàng với 950 chỉ tiêu có đến 8.779 TS đăng kư dự thi. Kết quả là điểm chuẩn của ngành này lên đến 22,5 điểm.
Không chỉ các trường chuyên ngành kinh tế, ở hầu hết những trường đa ngành có đào tạo nhóm ngành kinh tế, số lượng TS đăng kư đồng loạt tăng. Điển h́nh có thể kể đến Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, Trường ĐH Nông lâm TP.HCM, Trường ĐH Mở, Trường ĐH Tôn Đức Thắng...
Y dược, công nghệ vẫn đáng gờm
Trên thực tế, những ngành học đă được khẳng định vẫn giữ uy thế của ḿnh. Con số gần 30.000 TS đăng kư dự thi để cạnh tranh t́m một trong 1.100 chỗ tại Trường ĐH Y dược TP.HCM đă phần nào nói lên uy thế đó.
Theo một chuyên gia tư vấn tuyển sinh, không ít TS có giấc mơ vào ngành y dược đă tự lượng sức ḿnh bằng việc "né” ngành bác sĩ đa khoa để chọn dược sĩ hay chọn một ngành nhiều năm "bị lăng quên" là điều dưỡng.
Nhưng không may, chính hai ngành này lại là những ngành có rất nhiều TS đăng kư. Trong đó, chỉ với 60 chỉ tiêu, ngành điều dưỡng nhận đến 3.472 hồ sơ đăng kư dự thi, tương ứng với tỉ lệ chọi 1/57,8. Riêng ngành dược sĩ tuy có đến 250 chỉ tiêu nhưng con số đăng kư dự thi cũng nhiều hơn gấp đôi ngành điều dưỡng: 8.706 TS, tương ứng với tỉ lệ chọi 1/34,8.
Ở Trường ĐH Y dược Cần Thơ, dù chỉ tuyển TS khu vực đồng bằng sông Cửu Long và chỉ có 420 chỉ tiêu nhưng cũng có gần 10.000 TS đăng kư dự thi. Điều này khiến tỉ lệ "chọi" chung cho các ngành của trường lên đến 1/24.
Đối với khu vực miền Trung, tỉ lệ "chọi" của Trường ĐH Y khoa (ĐH Huế) vượt lên hẳn so với tất cả các trường ĐH thành viên khác. Tỉ lệ "chọi" chung cho tất cả các ngành là 1/11,8, trong khi ngành bác sĩ đa khoa có tỉ lệ "chọi" là 1/13,7. Riêng phía Bắc, số lượng TS đăng kư dự thi vào Trường ĐH Y Hải Pḥng tăng gấp bốn lần, Trường ĐH Y Hà Nội tăng gần gấp đôi và Trường ĐH Y Thái B́nh tăng 71%.
Riêng những TS dự thi khối A có đam mê về khoa học, kỹ thuật và muốn học đúng ngành ḿnh yêu thích, việc chọn ngành cũng không đơn giản. Năm 2007, số lượng TS dự thi nhóm ngành kinh tế tăng ồ ạt nhưng nếu tính từng trường riêng lẻ th́ những trường chuyên đào tạo về khoa học, kỹ thuật, công nghệ lại có tỉ lệ tăng nhiều nhất.
So với năm 2006, Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội có số lượng TS đăng kư dự thi tăng trên 13%, Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM tăng 45%, Trường ĐH Nông nghiệp I tăng 45%. Con số này cũng nâng tỉ lệ "chọi" một số ngành khoa học, kỹ thuật, công nghệ lên chút ít. Tuy nhiên xét tổng thể, tỉ lệ "chọi" ở hầu hết các ngành này không cao vào hàng "ngất ngưởng".
Điển h́nh như Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG TP.HCM), tỉ lệ "chọi" của các ngành chỉ dao động gần 1/2-1/5. Ở Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, ngoại trừ một vài ngành như kỹ thuật điện - điện tử, điện công nghiệp có tỉ lệ "chọi" khoảng 1/10, hầu hết các ngành c̣n lại đều có tỉ lệ "chọi" thấp.
Cũng theo kết quả thăm ḍ được thực hiện tại cổng thông tin thi và tuyển sinh của Bộ GD-ĐT đến ngày 11-2, khối ngành vốn một thời được xưng tụng là "nhất y, nh́ dược" đă bị đẩy xuống hàng thứ hai với chỉ 15,7%. Trong khi tất cả những khối ngành c̣n lại gồm cả công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, xây dựng... chỉ có hơn 25% người được hỏi cho rằng đó là những ngành học hấp dẫn.
Lên ngôi
Trong năm 2007, không chỉ bậc ĐH, các trường CĐ tuyển sinh khối ngành kinh tế, quản trị kinh doanh cũng thu hút đông đảo TS đăng kư dự thi. Ngoài ra, các trường ĐH đóng tại địa phương, các trường ĐH đa ngành, đa cấp, đào tạo liên thông hầu hết có số hồ sơ đăng kư dự thi tăng mạnh: Trường ĐH Cần Thơ có số hồ sơ đăng kư dự thi so với năm 2006 tăng 6%, ĐH Tây Bắc tăng 31%, ĐH An Giang tăng 49%...
Xem lại bức tranh tuyển sinh năm 2007, người ta nhận thấy một sự phân hóa khá rơ nét trong xu hướng chọn ngành của TS và điểm nhấn chính là khối ngành kinh tế.
Nếu để đánh giá mức độ quan tâm đến nhóm ngành kinh tế của TS th́ có lẽ số lượng TS đăng kư dự thi cũng như điểm chuẩn trúng tuyển của Trường ĐH Kinh tế TP.HCM là thước đo dễ quan sát nhất.
Chỉ tuyển sinh duy nhất khối A, năm 2007 trường có đến 46.555 TS đăng kư dự thi, trở thành một trong những trường có số lượng TS đăng kư dự thi đông nhất. So với năm 2006, số lượng đăng kư dự thi vào trường tăng đến hơn 15%.
Cùng với sự tăng thêm về số lượng, điểm chuẩn của trường cũng "nhảy" từ 17,5 điểm năm 2006 lên 21,5 điểm năm 2007. Điểm chuẩn này khiến không ít TS phải ngậm ngùi nói lời tạm biệt với trường chỉ v́ lỡ ngắm nghía mức điểm chuẩn năm trước.
Ở Khoa kinh tế (ĐHQG TP.HCM), số lượng TS đăng kư dự thi vào các ngành như kinh tế đối ngoại, quản trị kinh doanh cũng khiến nhiều TS phải kiêng dè. Con số gần 2.000 TS đăng kư "tranh nhau" hơn 200 chỉ tiêu làm điểm chuẩn của hai ngành này lên đến 19 và 20,5 điểm. Và hai ngành đó đương nhiên không c̣n chỗ cho nguyện vọng 2. Đối với Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM, "cơn sốt" cũng lên cao không kém. Một trong những ngành đào tạo chủ lực của trường là tài chính - ngân hàng với 950 chỉ tiêu có đến 8.779 TS đăng kư dự thi. Kết quả là điểm chuẩn của ngành này lên đến 22,5 điểm.
Không chỉ các trường chuyên ngành kinh tế, ở hầu hết những trường đa ngành có đào tạo nhóm ngành kinh tế, số lượng TS đăng kư đồng loạt tăng. Điển h́nh có thể kể đến Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, Trường ĐH Nông lâm TP.HCM, Trường ĐH Mở, Trường ĐH Tôn Đức Thắng...
Y dược, công nghệ vẫn đáng gờm
Trên thực tế, những ngành học đă được khẳng định vẫn giữ uy thế của ḿnh. Con số gần 30.000 TS đăng kư dự thi để cạnh tranh t́m một trong 1.100 chỗ tại Trường ĐH Y dược TP.HCM đă phần nào nói lên uy thế đó.
Theo một chuyên gia tư vấn tuyển sinh, không ít TS có giấc mơ vào ngành y dược đă tự lượng sức ḿnh bằng việc "né” ngành bác sĩ đa khoa để chọn dược sĩ hay chọn một ngành nhiều năm "bị lăng quên" là điều dưỡng.
Nhưng không may, chính hai ngành này lại là những ngành có rất nhiều TS đăng kư. Trong đó, chỉ với 60 chỉ tiêu, ngành điều dưỡng nhận đến 3.472 hồ sơ đăng kư dự thi, tương ứng với tỉ lệ chọi 1/57,8. Riêng ngành dược sĩ tuy có đến 250 chỉ tiêu nhưng con số đăng kư dự thi cũng nhiều hơn gấp đôi ngành điều dưỡng: 8.706 TS, tương ứng với tỉ lệ chọi 1/34,8.
Ở Trường ĐH Y dược Cần Thơ, dù chỉ tuyển TS khu vực đồng bằng sông Cửu Long và chỉ có 420 chỉ tiêu nhưng cũng có gần 10.000 TS đăng kư dự thi. Điều này khiến tỉ lệ "chọi" chung cho các ngành của trường lên đến 1/24.
Đối với khu vực miền Trung, tỉ lệ "chọi" của Trường ĐH Y khoa (ĐH Huế) vượt lên hẳn so với tất cả các trường ĐH thành viên khác. Tỉ lệ "chọi" chung cho tất cả các ngành là 1/11,8, trong khi ngành bác sĩ đa khoa có tỉ lệ "chọi" là 1/13,7. Riêng phía Bắc, số lượng TS đăng kư dự thi vào Trường ĐH Y Hải Pḥng tăng gấp bốn lần, Trường ĐH Y Hà Nội tăng gần gấp đôi và Trường ĐH Y Thái B́nh tăng 71%.
Riêng những TS dự thi khối A có đam mê về khoa học, kỹ thuật và muốn học đúng ngành ḿnh yêu thích, việc chọn ngành cũng không đơn giản. Năm 2007, số lượng TS dự thi nhóm ngành kinh tế tăng ồ ạt nhưng nếu tính từng trường riêng lẻ th́ những trường chuyên đào tạo về khoa học, kỹ thuật, công nghệ lại có tỉ lệ tăng nhiều nhất.
So với năm 2006, Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội có số lượng TS đăng kư dự thi tăng trên 13%, Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM tăng 45%, Trường ĐH Nông nghiệp I tăng 45%. Con số này cũng nâng tỉ lệ "chọi" một số ngành khoa học, kỹ thuật, công nghệ lên chút ít. Tuy nhiên xét tổng thể, tỉ lệ "chọi" ở hầu hết các ngành này không cao vào hàng "ngất ngưởng".
Điển h́nh như Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG TP.HCM), tỉ lệ "chọi" của các ngành chỉ dao động gần 1/2-1/5. Ở Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, ngoại trừ một vài ngành như kỹ thuật điện - điện tử, điện công nghiệp có tỉ lệ "chọi" khoảng 1/10, hầu hết các ngành c̣n lại đều có tỉ lệ "chọi" thấp.